Bồi thường bằng đất là một khái niệm liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Qua quy định về bồi thường bằng đất, pháp luật Việt Nam nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức chủ sở hữu đất khi phải chuyển nhượng cho mục đích công ích, phát triển quỹ đất công. Việc bồi thường bằng đất đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất và thiệt hại gây ra từ việc chuyển nhượng đất. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm trong bài viết “Quy định về bồi thường bằng đất” của Luật đất đai nhé!
Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Luật Đất đai năm 2013 và các quy định liên quan, bồi thường bằng đất là một hình thức bồi thường thiệt hại cho cá nhân, tổ chức khi phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho mục đích công ích, phát triển quỹ đất công. Bồi thường bằng đất có thể áp dụng trong các trường hợp như quy hoạch đô thị, xây dựng công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật, dự án đầu tư.
Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 74 Luật Đất đai 2013 như sau:
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 Luật Đất đai 2013 thì được bồi thường.
- Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
- Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Quy định về bồi thường bằng đất
Để đảm bảo quá trình bồi thường bằng đất diễn ra thuận lợi, các bên liên quan cần tuân thủ quy định pháp luật và thực hiện các thủ tục đúng quy trình. Sự minh bạch, công khai và tham gia của các bên liên quan trong quá trình thỏa thuận và thực hiện bồi thường là rất quan trọng. Ngoài ra, cần lưu ý rằng quy định về bồi thường bằng đất cũng có thể thay đổi theo thời gian và quy định của từng khu vực.
Việc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất ở được quy định theo Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP như sau:
(1) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
Hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:
- Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;
- Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
(2) Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại (1) mục này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú;
Hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.
(3) Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại (1) mục này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thì được Nhà nước bồi thường bằng tiền.
(4) Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.
Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
(5) Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
(6) Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:
- Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu hồi;
- Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền;
- Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền.
Dân muốn bồi thường bằng đất ở có được không?
Bồi thường bằng đất là một phương thức giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Qua quy trình xác định nhu cầu sử dụng đất, định giá đất và thỏa thuận bồi thường, pháp luật đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong việc chuyển nhượng đất cho mục đích công ích và phát triển quỹ đất công.
Căn cứ Điều 79 Luật Đất đai 2013 và Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP, việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam được thực hiện theo quy định sau:

Khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có điều kiện được bồi thường về đất thì việc bồi thường được thực hiện cụ thể như sau:
Trường hợp 1: Thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
Trường hợp 2: Nếu thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP còn quy định hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp trên mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền.
Như vậy, đối với câu hỏi “người dân muốn bồi thường bằng đất ở có được không” thì không thể khẳng định luôn và ngay là “có” hay “không”. Ngay cả khi thuộc trường hợp 1 cũng cần phải xem xét theo một số quy định sau:
- Khi thu hồi hết đất ở hoặc diện tích đất ở còn lại không đủ điều kiện để ở thì Nhà nước sẽ ưu tiên phương án bồi thường bằng đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân đó không còn đất ở, nhà ở nào khác trong phạm địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi.
- Để được bồi thường bằng đất ở cần phải có quỹ đất dùng để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, chỉ được bồi thường nếu địa phương có quỹ đất ở được sử dụng để bồi thường.
Ví dụ: Người có đất được sử dụng để xây dựng các công trình công cộng của xã, phường, thị trấn bao gồm công trình văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí công cộng, y tế, giáo dục, chợ, nghĩa trang, nghĩa địa và các công trình công cộng khác theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì sử dụng quỹ đất công ích (đất 5%) để bồi thường cho những người này.
- Đối với địa phương không có quỹ đất để bồi thường thì phương án bồi thường có thể là nhà ở tái định cư (trường hợp này xảy ra chủ yếu ở khu vực đô thị – nơi không có mặt bằng diện tích đất bồi thường cho người dân bị thu hồi đất).
Tóm lại, không phải khi nào người dân bị thu hồi đất ở cũng được bồi thường bằng đất ở, dù pháp luật đất đai có quy định ưu tiên bồi thường bằng phương án này. Nói cách khác, chỉ được bồi thường bằng đất ở nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
(1) Thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở.
(2) Hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi.
(3) Địa phương có quỹ đất sử dụng để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Mời bạn xem thêm:
- Những trường hợp được bồi thường thu hồi đất theo quy định
- Nguyên tắc bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định mới
- Quy định mới về bồi thường khi thu hồi đất 2023
Thông tin liên hệ:
Trên đây là thông tin về bài viết “Quy định về bồi thường bằng đất” mà Luật đất đai đã đề cập. Nếu có gặp vướng mắc hay nhu cầu về dịch vụ làm sổ đỏ đất xen kẹt hãy liên với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn nhé!
Câu hỏi thường gặp:
Căn cứ khoản 1 Điều 88 Luật Đất đai 2013, chủ sở hữu tài sản được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện sau:
(1) Tài sản gắn liền với đất được tạo lập hợp pháp (tài sản hợp pháp).
(2) Khi Nhà nước thu hồi đất thì tài sản gắn liền với đất bị thiệt hại.
Căn cứ khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai 2013, hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng khi có đủ điều kiện sau:
(1) Đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm.
(2) Có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận theo quy định Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp.